(Đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ nhật số 20, năm 2000 với tiêu đề “Quê Ngoại”)
Thứ Hai, 14 tháng 1, 2008
Năm Ấy Về Ngoại (2)
(Đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ nhật số 20, năm 2000 với tiêu đề “Quê Ngoại”)
Thứ Năm, 10 tháng 1, 2008
Năm Ấy Về Ngoại
Mồng hai Tết, Chí được gọi dậy sớm để về Ngoại. Cái rét của Đông Ken vẫn còn đậm đặc, Chí ra vại rửa mặt nước lạnh buốt da. Cha Chí dậy từ lâu, đang ngồi bên khay trà trên bộ ngựa. Tuần nhang sớm trên bàn thờ đã gần tàn. Lúc mẹ và Chí đi, anh Hương vẫn chưa dậy, cha lại khập khểnh đến đốt tiếp tuần nhang khác.
Năm năm rồi không được về Ngoại. Chí nghĩ bây giờ chắc Ngoại già hơn. Ngày đó tóc Ngoại đã bạc trắng, lưng Ngoại giờ nầy chẳng biết có còng thêm không? Nhớ năm ấy Chí về, Ngoại ôm vào lòng run run, nói: “Cha mi! Lớn ri rồi hử!” Cái cảm giác ấm lòng và mùi trầu cau nơi áo Ngoại khiến Chí nhớ mãi. Năm đó Ngoại cho Chí con tu huýt bằng đất nung khiến Chí thích lắm, thế mà bây giờ đã tuổi mười bốn.
Khi mẹ và Chí ra bến đò, bến vẫn còn vắng. Nhìn dòng sông quen thuộc giữa một sớm đầu xuân dưới màn sương trắng đục, cảnh vật ẩn hiện đầy vẻ huyền bí của buổi tinh mơ khiến Chí thấy hoàn toàn khác lạ; tất cả sự vật đang khoác lên mình một tấm áo choàng lộng lẫy, sang trọng, nó khác với thường ngày một bờ đất lở, những bụi cỏ lác cỏ lùng hay hang ổ của rái cá, những cành cây bãi phân bầy nhầy…
Có người hỏi trên bến.
- Chị Thợ đó ư, năm nay về ngoại hở? – cha Chí là thợ tre, mọi người vẫn gọi mẹ như thế để thay tên.
- Dạ! Mấy năm rồi mới được về đây! – khi nhìn rõ là o Vanh, mẹ hỏi tiếp – O cũng về Biện chớ?
O Vanh cười tươi nói:
- Khi tê không định đi! Sáng ni bỗng dưng muốn về và chỉ về một mình! – O hỏi mẹ - Con Đối, con Thoan năm ni có đứa mô về không?
Nghe hỏi mẹ thôi cười, buồn buồn nói:
- Không đứa mô về hết o ơi! Tội nghiệp con Đối, con đầu dâu trưởng, gánh vác nhà chồng nặng lắm. Năm mô về được thì mừng, năm mô về không được, nhớ mẹ nhớ em lại khóc; còn con Thoan, từ ngày theo o Mại làm ăn đến giờ, bặt vô âm tín!
- Còn thằng Chí ni – o Vanh xoay qua Chí – đi mô cũng được đi với mạ, con út sướng hí!
Nghe mẹ nói, thằng Chí cũng thấy buồn buồn, nó chẳng hiểu tại sao cuộc sống cứ phải có nước mắt ẩn dấu đằng sau niềm vui. Thế thì đâu là niềm vui trọn vẹn?
Khách đã đầy thuyền, chủ đò đem chèo ráp vào cọc, hỏi to:
- Ai đi Đại Lược, lên đây?
Mẹ và Chí lên đò, rời bến. Trên bờ còn nghe hỏi: “Có đò đi Biện không?” Chí nghe nôn nao khi đò ra giữa dòng, nó đứng hướng mắt sang bờ bên kia tìm dáng hình nhà Ngoại, tìm hàng cau vẫn đứng chờ trông. Nhưng phá Tam Giang rộng quá, bến bờ xa lắc, chẳng thấy nhà Ngoại nơi đâu. Nhưng riêng trong lòng thằng Chí thì nó vẫn nhớ rõ từng gốc cây bụi trúc trong mảnh vườn nhà Ngoại và nó vẫn nhớ câu chuyện về dây trầu ở cái giàn gần giếng, Ngoại kể: “Ngày ông bây mất, cả nhà chẳng ai nhớ đến “hắn”, không cho “hắn” chịu tang. Khi tau thấy dây trầu héo mới nhớ, liền đem khăn cho “hắn” chịu tang hôm sau thấy dây trầu tươi lại!”Lần nầy về, mẹ và Chí cũng không gặp cậu Triêm. Cậu là một tài xế đường dài, cậu cứ theo những chuyến xe về cái xứ sở xa xôi nào đó mà Chí không biết. Ngoại và vợ cậu cùng Mơ, Nụ, con gái của cậu thấy Chí và mẹ về thì mừng lắm. Ngoại rầu rầu nói:
- Năm mô hắn (cậu Triêm) cũng không về, ông bây lại chẳng còn, Tết không mần chi hết! Chừ mạ con bây về, mần một mâm cúng Tổ tiên, cúng ông bây! – Ngoại nói mà mắt rưng rưng, mẹ cũng rưng rưng, thằng Chí xót xa.
Sau đó, mẹ đưa Chí ra đôộng cát thắp nhang mộ ông Ngoại.
Buổi chiều làm cỗ, Ngoại bảo sang vườn mời cả nhà mệ Đích, Chí theo Mơ đi chơi. Một cô gái đôi mươi ở trong nhà mệ Đích thấy Chí liền ôm lấy hai vai mà kêu lên với cái giọng như ru:
- Chí đây phải không? Chí con chị Hiệu (tên mẹ) phải không? Ôi lớn ghê, đẹp trai nữa chứ!Thằng Chí nghe cô gái khen mình, nó xấu hổ cúi mặt đứng không nhúc nhích. Cho đến lúc về bên nầy Chí mới bình tĩnh và mới biết đó là o Thoa, em mệ Đích.
Cái tình thân giữa Ngoại và mệ Đích đã có từ cái thuở còn con gái. Ngày đó hai người
là đôi bạn gái thân nhau, lúc lấy chồng hai người lại may mắn ở kế vườn nhau. Nhưng mệ Đích phận hẩm, chồng mất khi mới được đứa con đầu lòng, lúc tuổi xuân vừa tròn hai mốt. Và rồi dù tuổi đời còn trẻ, dù xuân sắc vẫn còn mặn mà, mệ Đích vẫn khước từ gác bỏ ngoài tai mọi lời mối lái gạ gẫm gần xa, cố ở vậy nuôi con trai đến khi khôn lớn. Nhưng khi con trai vừa tròn hai chục tuổi, người con cũng phải vào đời, theo đuổi ước vọng của mình, thì người mẹ hiền thục kia lại trở về với nỗi cô đơn hiu quạnh mà bấy lâu nay bà đã quên đi dành trọn tình yêu cho con. Và người mẹ trẻ kia đã vấp ngã: Mệ Đích đã mang bầu, sinh ra người con gái tên Thoa.
Ngày mà xóm làng biết người phụ nữ kia có bầu, thì gia đình nội ngoại đều từ bỏ, người đàn ông kia cũng chẳng đoái hoài, lui tới. Nhưng Ngoại lại khác, thương bạn phận bạc, thương cảnh đắng cay, Ngoại cưu mang bạn lúc này cho đến suốt những tháng ngày sinh đẻ mẹ tròn con vuông. Từ đó hai người càng thương nhau hơn, xem nhau như ruột thịt, cái gì cũng có nhau.
Lúc vào mâm, mẹ so đũa cho Ngoại và mệ Đích, một người bạn của mẹ ngồi trong mâm, nói:
- Ngày trước đừng xem tuổi, chừ là dâu người ta rồi!
Mẹ chỉ cười, nhìn dâu mệ Đích ngồi ở bàn bên kia.
Những chuyện thời trước về mẹ và chú Khê, mọi người đều biết, các con và cha Chí cũng biết: Thuở mẹ còn con gái, Ngoại định gả mẹ cho chú Khê con của mệ Đích, nhưng không hợp tuổi lại thôi. Sau này, lúc mẹ đã hai con, chú Khê mới lấy vợ. Nhưng tính chú Khê vốn thích phiêu lưu, theo bạn bè làm ăn xa, nghe nói qua bên kia biên giới lận và rồi không thấy về nữa. Để lại vợ và đứa con trai còn nhỏ cho mệ Đích.
Đột nhiên thằng Chí nghĩ đến cha và suy rằng: nếu mẹ lấy chú Khê, thì giờ nầy cha chỉ còn một mình. Chí thấy tội nghiệp cha biết mấy, Chí yêu cha vô cùng và sẽ giận mẹ ghê lắm. Chí nghĩ ngày trước, cha mình cũng giỏi lắm, đã từng xuôi những bè gỗ bạc vạn. Thế rồi cái tai nạn trong rừng, đã cướp mất của cha một bàn chân, nên cha đành mới thành ra vậy.
- Mùa cau năm ni có khá không, o Thoa? mẹ của Chí hỏi.
- Tệ lắm, cau năm ni thương lái từ Dinh (Huế) về mua tận nơi, mình tranh không lại giá! O Thoa ngồi cạnh và đang gắp thức ăn cho Chí liền trả lời.
- Hắn buôn cau, bán cau thì được – mệ Đích chê con gái – nhưng biểu têm dĩa trầu thì chẳng xong!
Mọi người nghe đều cười, o Thoa cũng cười. Sau bữa cỗ, mọi người rủ nhau đánh bài. Ngoại và mệ Đích không chơi, cả hai lên sập ngồi với cơi trầu và đem chuyện nếp, tẻ của ba ngày Tết ra nói. Mẹ cũng không muốn chơi, nhưng mọi người cứ nài thành ra cũng một tay bài. Mơ với Nụ có ít tiền dành được cũng vào sòng chơi, cả hai giờ đã là cô gái mười lăm mười bảy. O Thoa kéo tay Chí bảo ngồi bên cho vui, tuy không thích đánh bài nhưng trời lạnh xúm nhau quanh cây đèn trên một bộ ngựa thế này Chí thấy cũng ấm.
Mẹ ngồi mép ngoài, đầu hôm được bài, ăn lắm. Ngược lại, o Thoa ngồi trong chiếu lại lủng bài, thua đậm. Thua nhiều nóng mặt, o Thoa đút bài xuống chỗ ngồi, ếm, vẫn cứ thua. Cùng, o Thoa nhờ Chí bắt bài lấy hên, lại hên thật, ăn bạc. Mẹ lại thua. Gần sáng buồn ngủ, Chí không bắt bài nữa, o Thoa đặt Chí nằm cạnh, nâng đầu để vào lòng và vỗ nhè nhẹ vào lưng. Chí ngủ thật nhanh, nghe hơi ấm nghe hương thơm từ người o Thoa tràn trong giấc ngủ.
(Còn tiếp)
Thứ Tư, 7 tháng 11, 2007
Thằng Rái (3)
- Mua áo quần đi cháu!Có nhiều thứ đẹp lắm!
Thằng Rái liền hỏi:
- Không may đo cho tôi làm sao có áo quần vừa?
Bà chủ cười giải thích:
- Ai cũng có số hết, như số này thì vừa với cháu!
Nói xong bà chủ lấy một bộ đồ đưa cho nó và bảo mặc thử. Đó là bộ đồ có áo dài tay màu trắng, với quần kaki màu vàng. Rái cầm rồi ướm thử chơi: “Vừa!... Vừa thật!... mà rất đẹp!”. Rái thầm nghĩ: “Sao họ biết cả số đo mình? Số mình không trùng với ai, với người Tây hay Tàu!”. Nhưng cho dù là thế, thằng Rái ngại ngùng mắc cỡ trả vội bộ đồ cho bà chủ mà nghĩ mình chẳng mua nổi đâu.
Bà chủ nói:
- Mua đi bán cho một trăm đó!
- Cháu không đủ tiền – Nó nói – chỉ còn tám bảy đồng thôi!
Nói xong Rái bỏ đi. Bà chủ gọi lại:
- Thôi được thấy cháu thật thà dì bán cho!
Quá bất ngờ thằng Rái không nghĩ mình mua được bộ áo quần, nó đưa tiền và nhận gói đồ. Đến khi về thuyền, thằng Rái nghĩ lại và thấy sợ: “Mình chưa xin phép mà đã mua áo quần, chắc thế nào cũng bị đánh!”.
Chiều hôm sau về nhà, dù chưa biết chuyện bộ áo quần, thằng Rái vẫn bị lão Diếu mắng:
- Hớt cái kiểu tóc gì giống như thằng ba trợn!
Sững sờ một lúc nó nói:
- Ba trợn chi mô!
Lão hét:
- Răng không hớt ca-rê?
Thằng Rái phân bua:
- Thì dưỡng mai xanh mà!
Nghe tiếng con về và đang bị mắng, mẹ Rái chạy vào:
- Thôi mà ông, con lớn rồi, ưng răng thì cho hắn hớt rứa!
Và xoay sang Rái:
- Ừ, nhìn cũng ra con trai, lớn lắm!
Mẹ bao giờ cũng độ lượng và yêu thương. Rái kéo mẹ xuống bếp, đưa bộ áo quần và tiền làm công hai tháng rưỡi. Sau khi giấu bộ đồ nó đã mua, mẹ Rái cầm tiền ra khoe với lão Diếu:
- Trời ơi tiền nhiều chưa! Từ khi lấy ông tới chừ, chưa khi mô tôi cầm được số tiền như ri, mà nợ thì cứ dồn lại. Số tiền ni tôi trả bớt ít nợ và sắm thêm câu lưới.
Chiều đó thằng Rái lại ra sông cùng với em nó. Lão Diếu đứng trước cửa nhìn hai đứa làm. Cũng như trước, thằng Lúi vẫn chuẩn bị con cúi (2) để mang theo,nhưng thằng Rái bảo để lại và cho thấy cái bật lửa mới keng trong túi.
Hôm nay ra khơi cũng như mọi hôm, sao thằng Rái nghe như có cái gì khác lạ, nó thấy mình như lớn hơn, vững vàng hơn khi tự tay cầm chèo trước dòng sông rộng.
Sau mẻ lưới chạng vạng, nó đưa thuyền về nghỉ thì thấy chiếc thuyền của cha con lão Chái ở đó. Lão đã chết vợ và sống với ba đứa con nhỏ lây lất trên chiếc thuyền cóc quanh các cồn bãi. Thấy thuyền thằng Rái cập vào, cô bé Nhạn con lão cầm đèn nhảy sang xin lửa. Đôi má của cô gái mười sáu ửng lên bẽn lẽn dưới ánh sáng của ngọn đèn trong thuyền, cô bé nói:
- Cho xin chút lửa!
Thằng Rái bỗng nghe lòng rộn lên, đưa tay vuốt vuốt mái tóc vừa hớt dưỡng, hỏi:
- Lấy lửa làm chi?
- Nấu cháo!
Thằng Rái liền lấy cái bật lửa mới có đính sợi dây nơi miệng túi ra đốt đèn cho cô bé. Nó thấy trong đôi mắt đen láy của cô bé Nhạn ánh lên vẻ ngưỡng phục khi nhìn nó. Trong phút chốc, thằng Rái thấy mình thật sự là một gã “đàn ông“. Nó nói:
- Cho nấu chung với!
Sau đó thằng Rái bảo thằng Lúi đem sang thuyền cô bé một con cá hanh (3) để nấu cháo ăn chung.
Tối đó, sau khi cùng với em nó sang ăn cháo bên thuyền lão Chái về, đôi mắt và nụ cười của cô bé Nhạn như cánh bướm chập chờn bay trong tâm trí nó. Và đêm ấy, đôi cánh bướm đã bay vào giấc ngủ khiến nó phải nằm mơ. Nó mơ thấy mình đi hỏi vợ và thấy mặc bộ đồ đã mua theo sau cha mẹ đến nhà gái mà chẳng phải mượn quần áo của ai./.
(2) Con cúi: vật kết bằng rơm dùng để úm lửa (giữ lửa) được lâu.
(3) Cá hanh: loại cá ngon, hiếm và đắt tiền, người dân chài thường đem bán chứ không dám ăn.
Thằng Rái (2)
Thằng Rái
Cái cảnh sông nước của cha con nó vẫn thế bởi quần áo chỉ độc một bộ,cần giữ khô để ngủ, nhất là giữa một đêm đông như thế này. Thằng Rái xuýt xoa: “ Đông này lạnh thật! Lạnh hơn đông trước “ . Lão Diếu ngồi bên bếp. Lão nhìn thằng Rái rồi thêm củi vào. Chẳng biết lão nghĩ gì khi nhìn con như thế. Tuy vậy cũng có lần lão nói: “ Thằng Rái cực quá mà lớn không nổi” . Quả thật trông thằng Rái có vẻ còi, nhỏ xác so với tuổi. Mặc dù vậy, thằng Rái cũng đã thay lão gánh vác việc nhà ba, bốn năm rồi chứ ít sao. Từ ngày nó 14, chị nó đã đi lấy chồng, nhà không còn ai. Thằng Lúi em nó, cũng chỉ phụ cho mấy sào. Còn mẹ nó ư?. Lão Diếu vẫn hay biếm vợ: “ Mụ ấy thì làm được gì? Vá cho đôi lỗ lưới rách là nhiều!”
Hai tay lão Diếu run lật bật lần túi tìm bâu(1) thuốc lá. Từ lúc lâm bạo bệnh, lão bị tật run tay như thế. Lão quấn một điếu rồi chìa cho thằng Rái: “Hút đi! Đỡ lạnh lắm!”. Thằng Rái đón điếu thuốc từ tay cha nó rồi rút que củi đang cháy ra mồi. Nó rít một hơi thật dài rồi nghệt cổ ra nhả khói cách điệu nghệ như một gã trai. Khói thuốc làm nó quên lạnh, nhưng cái cách và ánh mắt của lão Diếu vẫn xem nó như là đứa con nít khiến nó cứ bực mình: “Mình mà là con nít à?”. Nó nghĩ thế.
Sau khi nhìn bầu trời một lúc, lão Diếu nói:
- Đêm nay chắc không ngủ được rồi!
Thằng Rái đã mặc xong quần áo, đã cảm thấy bớt lạnh. Nó đang săm soi cời than và củi, nghe thế liền hỏi:
- Không ngủ thì làm chi?
Lão Diếu vui vẻ giải thích:
- Đêm nay chắc mưa to!
- Không mưa mà đã rét buốt thế rồi chưa đủ sao? thằng Rái càu nhàu - Còn mong gì nữa!
- Mưa thì nước về nhiều hơn, đục hơn. Nghề này chỉ nhờ có vậy!Lão Diếu giảng giải.
Cả hai chưa dứt lời thì đã nghe tiềng gió thổi mạnh trên mặt sông. Con thuyền đã được cắm sào nhưng nó cứ xoay liên tục theo chiều gió và thằng Rái nghe lộp bộp trên mui. Mưa bắt đầu rơi. Nó nghĩ thầm: “Lại một đêm rét buốt khổ cực nữa đây!”.
Gia đình thằng Rái vốn là dân vạn chài. Dân sống không nhà thác không mồ, trôi nổi trên các đầm phá, sông nước. Một cuộc vô định bốn phương. Thằng Rái chỉ ước mơ bình thường như bao người dân khác, có một mái nhà ở xóm làng, một miếng ruộng để cày và những đứa con đi đến trường. Đừng nói rằng người dân vạn chài có cuộc sống tự do tự tại sông nước thênh thang bốn mùa mát mẻ. Không, thằng Rái chỉ mong ước một cuộc sống thật của nó. Ước mong một đêm đông giá được cuộn mình trong mớ bao bố ngủ từ đầu hôm đến sáng mà không sợ nghe mẹ nói hết gạo! Còn những ý tưởng, nó không biết! Dù bây giờ gia đình thằng Rái đã có được một mái nhà nơi rẻo đất cha con thường phơi lưới ở ven sông, nhưng bao năm rồi người ta vẫn gọi là dân “ngụ cư”. Hai người chị của nó cũng lấy chồng vạn chài. Chị Kìm theo chồng sống tuốt trong Đầm Thừa Lưu nước ngọt; còn vợ chồng chị Mòi thì ở Vạn đò Gia Hội, chồng khuân vác và vợ bán mía khúc. Gia đình thằng Rái chẳng mấy dịp thăm họ. Nhưng mới đây có người từ hai nơi ấy về nói rằng: Chị Kìm đã bị chồng bỏ rơi theo người khác ; còn chị Mòi đói rách, nheo nhóc với tật bệnh thế mà chồng chẳng lo, được đồng nào đem chè chén sạch.
Tội nghiệp mẹ, thằng Rái đau lòng khi thấy mẹ kêu khóc: “Cái phận đàn bà, răng mà khổ rứa con ơi!”. Nghe thế lão Diếu lại đay: “Đồ đàn bà dư nước mắt!”. Nói xong ngoảnh mặt chổ khác, hai tay lại lật bật tìm bâu thuốc lá. Còn thằng Rái rủ thằng Khả ra gốc bàng trước đình ngồi hút thuốc. Nó nghĩ mọi sự cũng chỉ vì nghèo!
Sau một đêm vật lộn với gió mưa rét buốt, thằng Rái chỉ mong chóng về bến để chui vào mớ bao bố nơi cái võng tre dành riêng cho anh em nó. Rái không cần cả bữa cơm sáng nóng hổi mẹ nấu sẵn, nó cũng chẳng kịp nghe những lời khoe mẽ tài cán của lão Diếu, nó thèm ngủ. Cho đến khi gọi dậy buổi trưa, lúc ngoài trời vẫn còn lay bay những sợi mưa trong gió lạnh, mùi thức ăn sực nức do mẹ dọn ra nơi cái sạp khiến cơn đói đã bị nén xuống từ lâu giờ bỗng cồn cào bừng dậy làm cho thằng Rái không thể nào ngủ thêm được nữa. Vậy là nó bật dậy vung chân hất mớ bố rách sang bên, rồi nhảy qua sạp vớ ngay bát cơm ngấu nghiến một hơi liền mấy bát no bụng mới buông đũa ngồi xuống. Cách ăn uống của nó lại khiến lão Diếu chửi:
- Ăn uống cái chi lạ! Nếu được ra làng làm sao ngồi mâm với ta?
Thằng Rái thì nghĩ khác: Mình đói thì mình ăn, ăn sao mà chẳng được! Ăn miếng cơm mình làm ra thì có chi đâu mà xấu hổ? Ai muốn ra làng thì cứ sửa!
Sau bữa ăn, thằng Rái lấy phần thuốc đã chia cho mình bỏ vào túi rồi ra khỏi nhà. Trước đây lão Diếu chỉ chìa bâu cho quấn một điếu khi hút mà thôi. Nhưng điều đó không làm nó bận tâm. Cái mà thằng Rái luôn nghĩ đến là một cái bật lửa. Nó muốn có một cái bật lửa để trong túi như một người đàn ông thực thụ. Một người đàn ông không thể đi xin lửa, mà phải có lửa để cho người khác. Thằng Khả, bạn nó, cũng có bật lửa, nhưng cái đó đã cũ, bánh xe bật lửa đã mòn. Thằng Khả là bạn thân của nó từ nhỏ, dù Khả lớn hơn nó hai tuổi và nó chỉ tìm Khả để chơi trong khoảng thời gian được nghỉ từ đây đến chiều. Chúng gặp nhau thì cũng chỉ nói những chuyện tầm phào của những chàng trai mới lớn, hoặc có những đồng cảm như nhau và cả hai chẳng cần nói gì, chỉ nằm yên nơi bộ ngựa ở đầu hồi nhìn nỗi buồn rơi trên cành, sầu đông trụi lá bên ngoài cửa sổ. Thế nhưng bây giờ không thể tìm đến Khả chơi được nữa. Khả đã cưới vợ ba tháng nay. Không thể tìm Khả để chơi cũng buồn thật, nhưng điều khiến nó hối tiếc mãi trong lòng là nó không đến dự lễ cưới của bạn được. Khả đã mời và nhờ nó phụ rể. Khả đã nhắc nó đến mấy lần, nhưng làm sao nó đi được đây, áo quần đâu mà mặc? Từ nhỏ cho đến bây giờ, thằng Khả cũng như nó, chỉ được gia đình may cho bộ đồ ngắn bằng vải go. Loại vải cứng ngắc những hồ, có mùi ngai ngái và chỉ có hai màu đen hoặc đà. Vậy nhưng mỗi lần được may, chúng nó vẫn lấy làm vui sướng lắm, cứ chạy đến nhà bác thợ ngồi để rồi bị bác ta mắng mỏ. Ngay cả Khả chỉ đến ngày cưới vợ mới được may cho bộ đồ dài. Ngày đi hỏi vợ (và những lần đi làm rể) thằng Khả vẫn mượn áo quần người anh họ để mặc. (Còn tiếp)
(1) Cái bâu: loại túi có nhiều ngăn được may bằng bẹ chuối khô, dành để đựng sợi thuốc lá.