Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Hoàng Ân - Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Hoàng Ân - Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2008

Năm Ấy Về Ngoại (2)

Hôm sau, Chí không theo mẹ đi thăm người thân, mà theo o Thoa đi xem hội đấu vật, đánh đu… Chí thay bộ quần áo khác rồi theo o Thoa ra con đường cái xuyên qua cánh đồng, qua các xã, để đến chỗ mở hội. Hôm nay người đi rất đông, họ kêu nhau cười đùa chọc ghẹo nhau huyên náo cả con đường, và cũng vì vậy mà mọi người đi rất nhanh qua đến xã bên đa nghe tiếng trống từ nơi hội diễn. Nhưng khi gần đến chỗ quẹo vào làng hội, nơi có cái quán dựa dưới bóng cây ngô đồng sù sì, một tốp thanh niên chận o Thoa và Chí lại, nói.

- Cô em ơi! Dừng lại đây với anh một chút, rồi chúng ta cùng đi với nhau!

Họ nói và chắn ngang đường không cho cả hai đi qua, thằng Chí thấy bực lắm. Nhưng với o Thoa, không những không khó chịu, mà còn ỏn ẻn cười với họ. Chí liền bất mãn bước tới, mắt trừng trừng nhìn mấy chàng thanh niên và cầm tay o Thoa kéo đi. Đoạn đường còn lại, o Thoa hỏi gì Chí cũng không nói, nó thấy hờn hờn trong lòng thế nào ấy. Đến lúc đứng trong sân, o Thoa kéo Chí dựa lưng vào lòng, thằng Chí mới thấy nguôi nguôi.

Khi hai người vào sân, thì ở sân vừa xong một cuộc đấu, cuộc đấu kế tiếp chưa tới. Hồi lâu Chí mới nghe gọi tên và có hai vận động viên vào sân. Thì ra một trong hai vận động viên kia lại chính là người thanh niên đã chận o Thoa, tên là Danh. Bây giờ ở giữa sân, anh ta cùng người đối địch đang gằm ghè thủ thế nhìn nhau đợi hồi trống lệnh. Và rồi, hồi trống đã điểm. Cả hai cùng xông tới túm lấy nhau, quần nhau, đem hết sức bình sinh quyết dìm đầu nhau xuống đất. Những kẻ đứng quanh sân xem cả hai bắt đầu ra đòn, liền gào la náo loạn; họ thích thú thét to lên để cổ vũ, kể cả o Thoa.

Nhưng riêng thằng Chí, nó thấy buồn hơn vui, có gì để vui khi nhìn hai con người nghiến răng, trợn mắt dìm đầu đồng loại mình xuống bùn! Tuy thế, nó vẫn phải đứng xem cho tới hồi kết cuộc, lúc đó cả hai “con người” ở giữa sân đều đứng dậy với kẻ thắng người thua cùng hai gương mặt lắm lem bùn đất.

O Thoa thấy Chí không thích xem đấu vật, liền dẫn Chí về nhà người chị họ của mẹ để chơi, chứ chẳng đưa đi xem đu. Ở đây chỉ có hai cô gái ở nhà. Khi vừa thấy nhau là cả ba đều reo lên cùng với những tiếng cười trong trẻo của con gái, khiến cho lòng thằng Chí cũng thấy rộn lên một niềm vui mà nó chẳng biết tại sao. Nhưng khi họ nói với nhau đủ thứ chuyện, kể cả điều riêng tư, nhất là nhắc đến chuyện các chàng trai theo mình thì cả ba cô đều nổi lên cười và kèm những lời nói đáng ra chỉ có riêng họ thôi. Thằng Chí thấy bực mình khó chịu và cũng chẳng hiểu là họ thích hay là ghét chuyện đó, khiến họ vừa cười, vừa nói như bêu.

Chợt ngoài ngõ có tiếng ồm ồm của mấy anh con trai; các cô gái trong nhà liền lặng thinh, họ chỉ nhìn nhau cười bằng mắt như muốn nói điều gì. Chí chưa hết ngạc nhiên thì đã thấy ba, bốn chàng đi vào ngõ thật, lại còn có cả chàng thanh niên đã chận o Thoa. Chí chưa biết phải làm gì, thì thấy o Thoa tỏ ra lúng túng vùng chạy xuống bếp như tránh. Chí định xuống bếp rủ o Thoa đi về, nhưng liền thấy o Thoa cùng bạn bưng nước lên cười nói, mời chào. Thằng Chí lại thấy lòng tưng tức, nó liền bỏ ra đường định đi về. Mặc dù thằng Chí không biết đường, nhưng nó nghĩ cứ đi ngược con đường o Thoa dẫn đi ban sáng là về nhà Ngoại gặp mẹ. Vậy nhưng thằng Chí vừa đến ngã ba, thì o Thoa đã theo kịp, o Thoa choàng vai Chí thủ thỉ:

- Khoan về đã Chí, vào chơi chút nữa! Chiều, o Thoa dẫn Chí về, hí!

Thằng Chí cảm thấy như mất hết phản ứng, nó để cho o Thoa kéo vào.

Trong nhà, các cô gái và mấy chàng thanh niên lại đánh bài. Và dù chán cảnh này, thằng Chí vẫn theo o Thoa ngồi xuống chiếu chịu trận. Người thanh niên tên Danh, vận động viên đấu vật, cũng ngồi kế o Thoa, chẳng biết anh ta nói gì mà cứ khiến o Thoa cười rũ ra. Thằng Chí tuy rất bực nhưng cũng phải ngồi cho đến chiều, đến khi dì dượng của o Thoa về, cuộc chơi mới chấm dứt. O Thoa chào dì dượng rồi cùng Chí ra về.

Lần nầy o Thoa không đưa Chí về đường cũ, mà theo lối mòn sau đôộng cát để đi. Lối mòn nầy phải ngang qua một khe nước nhỏ mới về nhà Ngoại.

Khe nước trong veo, đáy lộ cát trắng, khiến Chí thích quá nhảy xuống lội. O Thoa cũng kéo cao ống quần, lộ đôi chân trần thon trắng nõn nà cùng lội xuống nghịch nước theo với Chí. Cả hai rượt theo những con cá nhỏ trong dòng nước và chơi đùa một lúc thì o Thoa lên bờ gọi Chí:

- Chiều lắm rồi, về thôi Chí ơi!

Nghe gọi, thằng Chí liền nhảy lên bờ theo o Thoa, nhưng o Thoa lại đứng im nhìn nó một lúc, rồi bất chợt nói:

- Chí có biết là… mình rất đàn ông không?

- ..?!

Đột nhiên o Thoa ôm ghì lấy nó, và hôn lên mặt.

Thằng Chí quá bất ngờ đứng im bất động, nghe hương thơm từ người o Thoa thấm qua cơ thể một cơn say, khiến nó bừng bừng lên một cảm giác khác lạ. Cái mùi hương ấy không như mùi nắng thơm áo mẹ, mà như là hương từ cây cỏ, dòng sông, đồng ruộng… hay là gì gì thằng Chí không biết, mà nó nghe mình mê muội đi giữa một chiều xuân, bên khe nước trong vắt ấy!

Năm hôm về Tết nhà Ngoại, là năm hôm liền Chí được o Thoa dẫn đi chơi. Có hôm o Thoa đã đưa Chí ra tận biển Tân Hội chơi trò leo lên đôộng cát cao để tuột dốc thật vui. Thế nhưng nó vui không phải vì được đi chơi, mà đối với Chí đi với o Thoa mới là điều khiến nó sung sướng. Nên sáng mồng bảy, nghe mẹ bảo về, thằng Chí thấy lòng thật buồn. Hôm đó o Thoa cũng theo xuống bến đò để tiễn Chí và mẹ. Lúc đợi đò, o Thoa đứng bên quàng vai Chí và nói: “Chí nhớ về thăm o Thoa, nghe!” Chí chẳng nói gì, chỉ lẳng lặng theo mẹ xuống đò khi người chủ đã đẩy vào sát bến. Lúc đò đã ra xa, Chí thấy o Thoa vẫn còn đứng trên bến cùng với Mơ và Nụ, nó nghe lòng buồn rười rượi.

Bây giờ về Lai Hà, về lại nhà, những ngày ở quê Ngoại, những ngày vui cùng o Thoa đã để lại trong lòng thằng Chí một khoảng trống khiến nó cứ ngẩn ngơ. Nó đã đánh mất cái hồn nhiên thuở nào, chẳng còn thích chơi với bạn bè trang lứa nữa. Thằng Oi, thằng Ri rũ đi câu cá nó cũng chẳng muốn; và nhất là, khi cánh đồng trước làng đã khô rạ, khi làng mời đoàn hát Bội về dựng rạp diễn tuồng toàn xã cùng vui, thì Chí không còn thích cùng bạn chui trộm vào xem hát. Nó thường một mình ra đê, dõi mắt theo bóng con đò sang sông; hoặc khi chiều xuống, thằng Chí hay đứng lặng dưới hàng dương, nghe gió vi vu qua cành liễu mà cứ ngỡ như tiếng thì thầm chiều nào về với o Thoa. Nỗi nhớ chẳng nói nên lời, nó nghe thổn thức trong lòng và trải dài ra với ngày tháng thời gian, để rồi chỉ còn ước mơ mong một lần về thăm quê Ngoại.

Thế rồi mùa đông lại đến, mưa gió cứ sụt sùi với giá rét, khiến nỗi khổ của mẹ như càng tăng thêm cho những buổi chợ sớm chợ chiều. Và hôm đó mẹ ướt mướt từ chợ về bảo:

- Có gặp một người bên kia qua bán hàng, bảo rằng o Thoa vừa lấy chồng, người chồng tên là Danh!

Thằng Chí không còn nghe tiếp điều gì nữa, nó bỏ chạy ra sông. Nó đứng nhìn sông rộng mưa giăng, nhìn bầu trời mờ mịt không bóng dáng con đò. Thằng Chí nghe nỗi nhớ chơi vơi, nhớ đường về nhà Ngoại, nhớ giàn trầu hàng cau, nhớ nẻo tắt sang vườn… và nhớ o Thoa bật khóc…

(Đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ nhật số 20, năm 2000 với tiêu đề “Quê Ngoại”)

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2008

Năm Ấy Về Ngoại

Mồng hai Tết, Chí được gọi dậy sớm để về Ngoại. Cái rét của Đông Ken vẫn còn đậm đặc, Chí ra vại rửa mặt nước lạnh buốt da. Cha Chí dậy từ lâu, đang ngồi bên khay trà trên bộ ngựa. Tuần nhang sớm trên bàn thờ đã gần tàn. Lúc mẹ và Chí đi, anh Hương vẫn chưa dậy, cha lại khập khểnh đến đốt tiếp tuần nhang khác.

Năm năm rồi không được về Ngoại. Chí nghĩ bây giờ chắc Ngoại già hơn. Ngày đó tóc Ngoại đã bạc trắng, lưng Ngoại giờ nầy chẳng biết có còng thêm không? Nhớ năm ấy Chí về, Ngoại ôm vào lòng run run, nói: “Cha mi! Lớn ri rồi hử!” Cái cảm giác ấm lòng và mùi trầu cau nơi áo Ngoại khiến Chí nhớ mãi. Năm đó Ngoại cho Chí con tu huýt bằng đất nung khiến Chí thích lắm, thế mà bây giờ đã tuổi mười bốn.

Khi mẹ và Chí ra bến đò, bến vẫn còn vắng. Nhìn dòng sông quen thuộc giữa một sớm đầu xuân dưới màn sương trắng đục, cảnh vật ẩn hiện đầy vẻ huyền bí của buổi tinh mơ khiến Chí thấy hoàn toàn khác lạ; tất cả sự vật đang khoác lên mình một tấm áo choàng lộng lẫy, sang trọng, nó khác với thường ngày một bờ đất lở, những bụi cỏ lác cỏ lùng hay hang ổ của rái cá, những cành cây bãi phân bầy nhầy…

Có người hỏi trên bến.

- Chị Thợ đó ư, năm nay về ngoại hở? – cha Chí là thợ tre, mọi người vẫn gọi mẹ như thế để thay tên.

- Dạ! Mấy năm rồi mới được về đây! – khi nhìn rõ là o Vanh, mẹ hỏi tiếp – O cũng về Biện chớ?

O Vanh cười tươi nói:

- Khi tê không định đi! Sáng ni bỗng dưng muốn về và chỉ về một mình! – O hỏi mẹ - Con Đối, con Thoan năm ni có đứa mô về không?

Nghe hỏi mẹ thôi cười, buồn buồn nói:

- Không đứa mô về hết o ơi! Tội nghiệp con Đối, con đầu dâu trưởng, gánh vác nhà chồng nặng lắm. Năm mô về được thì mừng, năm mô về không được, nhớ mẹ nhớ em lại khóc; còn con Thoan, từ ngày theo o Mại làm ăn đến giờ, bặt vô âm tín!

- Còn thằng Chí ni – o Vanh xoay qua Chí – đi mô cũng được đi với mạ, con út sướng hí!

Nghe mẹ nói, thằng Chí cũng thấy buồn buồn, nó chẳng hiểu tại sao cuộc sống cứ phải có nước mắt ẩn dấu đằng sau niềm vui. Thế thì đâu là niềm vui trọn vẹn?

Khách đã đầy thuyền, chủ đò đem chèo ráp vào cọc, hỏi to:

- Ai đi Đại Lược, lên đây?

Mẹ và Chí lên đò, rời bến. Trên bờ còn nghe hỏi: “Có đò đi Biện không?” Chí nghe nôn nao khi đò ra giữa dòng, nó đứng hướng mắt sang bờ bên kia tìm dáng hình nhà Ngoại, tìm hàng cau vẫn đứng chờ trông. Nhưng phá Tam Giang rộng quá, bến bờ xa lắc, chẳng thấy nhà Ngoại nơi đâu. Nhưng riêng trong lòng thằng Chí thì nó vẫn nhớ rõ từng gốc cây bụi trúc trong mảnh vườn nhà Ngoại và nó vẫn nhớ câu chuyện về dây trầu ở cái giàn gần giếng, Ngoại kể: “Ngày ông bây mất, cả nhà chẳng ai nhớ đến “hắn”, không cho “hắn” chịu tang. Khi tau thấy dây trầu héo mới nhớ, liền đem khăn cho “hắn” chịu tang hôm sau thấy dây trầu tươi lại!”Lần nầy về, mẹ và Chí cũng không gặp cậu Triêm. Cậu là một tài xế đường dài, cậu cứ theo những chuyến xe về cái xứ sở xa xôi nào đó mà Chí không biết. Ngoại và vợ cậu cùng Mơ, Nụ, con gái của cậu thấy Chí và mẹ về thì mừng lắm. Ngoại rầu rầu nói:

- Năm mô hắn (cậu Triêm) cũng không về, ông bây lại chẳng còn, Tết không mần chi hết! Chừ mạ con bây về, mần một mâm cúng Tổ tiên, cúng ông bây! – Ngoại nói mà mắt rưng rưng, mẹ cũng rưng rưng, thằng Chí xót xa.

Sau đó, mẹ đưa Chí ra đôộng cát thắp nhang mộ ông Ngoại.

Buổi chiều làm cỗ, Ngoại bảo sang vườn mời cả nhà mệ Đích, Chí theo Mơ đi chơi. Một cô gái đôi mươi ở trong nhà mệ Đích thấy Chí liền ôm lấy hai vai mà kêu lên với cái giọng như ru:

- Chí đây phải không? Chí con chị Hiệu (tên mẹ) phải không? Ôi lớn ghê, đẹp trai nữa chứ!Thằng Chí nghe cô gái khen mình, nó xấu hổ cúi mặt đứng không nhúc nhích. Cho đến lúc về bên nầy Chí mới bình tĩnh và mới biết đó là o Thoa, em mệ Đích.

Cái tình thân giữa Ngoại và mệ Đích đã có từ cái thuở còn con gái. Ngày đó hai người
là đôi bạn gái thân nhau, lúc lấy chồng hai người lại may mắn ở kế vườn nhau. Nhưng mệ Đích phận hẩm, chồng mất khi mới được đứa con đầu lòng, lúc tuổi xuân vừa tròn hai mốt. Và rồi dù tuổi đời còn trẻ, dù xuân sắc vẫn còn mặn mà, mệ Đích vẫn khước từ gác bỏ ngoài tai mọi lời mối lái gạ gẫm gần xa, cố ở vậy nuôi con trai đến khi khôn lớn. Nhưng khi con trai vừa tròn hai chục tuổi, người con cũng phải vào đời, theo đuổi ước vọng của mình, thì người mẹ hiền thục kia lại trở về với nỗi cô đơn hiu quạnh mà bấy lâu nay bà đã quên đi dành trọn tình yêu cho con. Và người mẹ trẻ kia đã vấp ngã: Mệ Đích đã mang bầu, sinh ra người con gái tên Thoa.

Ngày mà xóm làng biết người phụ nữ kia có bầu, thì gia đình nội ngoại đều từ bỏ, người đàn ông kia cũng chẳng đoái hoài, lui tới. Nhưng Ngoại lại khác, thương bạn phận bạc, thương cảnh đắng cay, Ngoại cưu mang bạn lúc này cho đến suốt những tháng ngày sinh đẻ mẹ tròn con vuông. Từ đó hai người càng thương nhau hơn, xem nhau như ruột thịt, cái gì cũng có nhau.

Lúc vào mâm, mẹ so đũa cho Ngoại và mệ Đích, một người bạn của mẹ ngồi trong mâm, nói:

- Ngày trước đừng xem tuổi, chừ là dâu người ta rồi!

Mẹ chỉ cười, nhìn dâu mệ Đích ngồi ở bàn bên kia.

Những chuyện thời trước về mẹ và chú Khê, mọi người đều biết, các con và cha Chí cũng biết: Thuở mẹ còn con gái, Ngoại định gả mẹ cho chú Khê con của mệ Đích, nhưng không hợp tuổi lại thôi. Sau này, lúc mẹ đã hai con, chú Khê mới lấy vợ. Nhưng tính chú Khê vốn thích phiêu lưu, theo bạn bè làm ăn xa, nghe nói qua bên kia biên giới lận và rồi không thấy về nữa. Để lại vợ và đứa con trai còn nhỏ cho mệ Đích.
Đột nhiên thằng Chí nghĩ đến cha và suy rằng: nếu mẹ lấy chú Khê, thì giờ nầy cha chỉ còn một mình. Chí thấy tội nghiệp cha biết mấy, Chí yêu cha vô cùng và sẽ giận mẹ ghê lắm. Chí nghĩ ngày trước, cha mình cũng giỏi lắm, đã từng xuôi những bè gỗ bạc vạn. Thế rồi cái tai nạn trong rừng, đã cướp mất của cha một bàn chân, nên cha đành mới thành ra vậy.

- Mùa cau năm ni có khá không, o Thoa? mẹ của Chí hỏi.

- Tệ lắm, cau năm ni thương lái từ Dinh (Huế) về mua tận nơi, mình tranh không lại giá! O Thoa ngồi cạnh và đang gắp thức ăn cho Chí liền trả lời.

- Hắn buôn cau, bán cau thì được – mệ Đích chê con gái – nhưng biểu têm dĩa trầu thì chẳng xong!

Mọi người nghe đều cười, o Thoa cũng cười. Sau bữa cỗ, mọi người rủ nhau đánh bài. Ngoại và mệ Đích không chơi, cả hai lên sập ngồi với cơi trầu và đem chuyện nếp, tẻ của ba ngày Tết ra nói. Mẹ cũng không muốn chơi, nhưng mọi người cứ nài thành ra cũng một tay bài. Mơ với Nụ có ít tiền dành được cũng vào sòng chơi, cả hai giờ đã là cô gái mười lăm mười bảy. O Thoa kéo tay Chí bảo ngồi bên cho vui, tuy không thích đánh bài nhưng trời lạnh xúm nhau quanh cây đèn trên một bộ ngựa thế này Chí thấy cũng ấm.

Mẹ ngồi mép ngoài, đầu hôm được bài, ăn lắm. Ngược lại, o Thoa ngồi trong chiếu lại lủng bài, thua đậm. Thua nhiều nóng mặt, o Thoa đút bài xuống chỗ ngồi, ếm, vẫn cứ thua. Cùng, o Thoa nhờ Chí bắt bài lấy hên, lại hên thật, ăn bạc. Mẹ lại thua. Gần sáng buồn ngủ, Chí không bắt bài nữa, o Thoa đặt Chí nằm cạnh, nâng đầu để vào lòng và vỗ nhè nhẹ vào lưng. Chí ngủ thật nhanh, nghe hơi ấm nghe hương thơm từ người o Thoa tràn trong giấc ngủ.

(Còn tiếp)

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2007

Thằng Rái (3)

Hôm đi chuyến cuối cùng, chú Phu ghé thuyền nghỉ rồi vào chợ Mỹ Chánh, thằng Rái hỏi mượn tiền hớt tóc, chú đưa cho nó một trăm. Đây là lần đầu tiên trong đời Rái có một số tiền lớn trong túi, nó có cảm giác “oách oách“ thế nào ấy. Sau khi đi hớt tóc hết năm đồng, thằng Rái quyết định mua cái bật lửa hết tám đồng. Nó đi quanh chợ xem chơi với vẻ rất tự tin. Lúc đến hàng vải vóc quần áo, bà chủ hàng mời chào:
- Mua áo quần đi cháu!Có nhiều thứ đẹp lắm!
Thằng Rái liền hỏi:
- Không may đo cho tôi làm sao có áo quần vừa?
Bà chủ cười giải thích:
- Ai cũng có số hết, như số này thì vừa với cháu!
Nói xong bà chủ lấy một bộ đồ đưa cho nó và bảo mặc thử. Đó là bộ đồ có áo dài tay màu trắng, với quần kaki màu vàng. Rái cầm rồi ướm thử chơi: “Vừa!... Vừa thật!... mà rất đẹp!”. Rái thầm nghĩ: “Sao họ biết cả số đo mình? Số mình không trùng với ai, với người Tây hay Tàu!”. Nhưng cho dù là thế, thằng Rái ngại ngùng mắc cỡ trả vội bộ đồ cho bà chủ mà nghĩ mình chẳng mua nổi đâu.
Bà chủ nói:
- Mua đi bán cho một trăm đó!
- Cháu không đủ tiền – Nó nói – chỉ còn tám bảy đồng thôi!
Nói xong Rái bỏ đi. Bà chủ gọi lại:
- Thôi được thấy cháu thật thà dì bán cho!
Quá bất ngờ thằng Rái không nghĩ mình mua được bộ áo quần, nó đưa tiền và nhận gói đồ. Đến khi về thuyền, thằng Rái nghĩ lại và thấy sợ: “Mình chưa xin phép mà đã mua áo quần, chắc thế nào cũng bị đánh!”.
Chiều hôm sau về nhà, dù chưa biết chuyện bộ áo quần, thằng Rái vẫn bị lão Diếu mắng:
- Hớt cái kiểu tóc gì giống như thằng ba trợn!
Sững sờ một lúc nó nói:
- Ba trợn chi mô!
Lão hét:
- Răng không hớt ca-rê?
Thằng Rái phân bua:
- Thì dưỡng mai xanh mà!
Nghe tiếng con về và đang bị mắng, mẹ Rái chạy vào:
- Thôi mà ông, con lớn rồi, ưng răng thì cho hắn hớt rứa!
Và xoay sang Rái:
- Ừ, nhìn cũng ra con trai, lớn lắm!
Mẹ bao giờ cũng độ lượng và yêu thương. Rái kéo mẹ xuống bếp, đưa bộ áo quần và tiền làm công hai tháng rưỡi. Sau khi giấu bộ đồ nó đã mua, mẹ Rái cầm tiền ra khoe với lão Diếu:
- Trời ơi tiền nhiều chưa! Từ khi lấy ông tới chừ, chưa khi mô tôi cầm được số tiền như ri, mà nợ thì cứ dồn lại. Số tiền ni tôi trả bớt ít nợ và sắm thêm câu lưới.
Chiều đó thằng Rái lại ra sông cùng với em nó. Lão Diếu đứng trước cửa nhìn hai đứa làm. Cũng như trước, thằng Lúi vẫn chuẩn bị con cúi (2) để mang theo,nhưng thằng Rái bảo để lại và cho thấy cái bật lửa mới keng trong túi.
Hôm nay ra khơi cũng như mọi hôm, sao thằng Rái nghe như có cái gì khác lạ, nó thấy mình như lớn hơn, vững vàng hơn khi tự tay cầm chèo trước dòng sông rộng.
Sau mẻ lưới chạng vạng, nó đưa thuyền về nghỉ thì thấy chiếc thuyền của cha con lão Chái ở đó. Lão đã chết vợ và sống với ba đứa con nhỏ lây lất trên chiếc thuyền cóc quanh các cồn bãi. Thấy thuyền thằng Rái cập vào, cô bé Nhạn con lão cầm đèn nhảy sang xin lửa. Đôi má của cô gái mười sáu ửng lên bẽn lẽn dưới ánh sáng của ngọn đèn trong thuyền, cô bé nói:
- Cho xin chút lửa!
Thằng Rái bỗng nghe lòng rộn lên, đưa tay vuốt vuốt mái tóc vừa hớt dưỡng, hỏi:
- Lấy lửa làm chi?
- Nấu cháo!
Thằng Rái liền lấy cái bật lửa mới có đính sợi dây nơi miệng túi ra đốt đèn cho cô bé. Nó thấy trong đôi mắt đen láy của cô bé Nhạn ánh lên vẻ ngưỡng phục khi nhìn nó. Trong phút chốc, thằng Rái thấy mình thật sự là một gã “đàn ông“. Nó nói:
- Cho nấu chung với!
Sau đó thằng Rái bảo thằng Lúi đem sang thuyền cô bé một con cá hanh (3) để nấu cháo ăn chung.
Tối đó, sau khi cùng với em nó sang ăn cháo bên thuyền lão Chái về, đôi mắt và nụ cười của cô bé Nhạn như cánh bướm chập chờn bay trong tâm trí nó. Và đêm ấy, đôi cánh bướm đã bay vào giấc ngủ khiến nó phải nằm mơ. Nó mơ thấy mình đi hỏi vợ và thấy mặc bộ đồ đã mua theo sau cha mẹ đến nhà gái mà chẳng phải mượn quần áo của ai./.
- Đã đăng trên Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 614, 01.09.2007 -

(2) Con cúi: vật kết bằng rơm dùng để úm lửa (giữ lửa) được lâu.
(3) Cá hanh: loại cá ngon, hiếm và đắt tiền, người dân chài thường đem bán chứ không dám ăn.

Thằng Rái (2)

Mùa hạ năm đó, khi ngọn gió Lào thổi về hừng hực làm khô khốc cả đồng ruộng và dòng sông, ở quê nó người ta cũng tu bổ nhà cửa cho mùa dông bão sắp tới, thì cuộc đời thằng Rái cũng đươc thay đổi. Nó được cha mẹ cho phụ chú Phu trong những chuyến lên nguồn buôn tranh, tre, mây, gỗ. Mùa này sông nước khô cạn, câu lưới thua kém, thằng Lúi có thể thay nó cùng với cha ra sông và thế là Rái bắt đầu đi buôn. Thằng Rái rất vui khi biết chú Phu tính tình rất phóng khoáng, thích hò hát và lại hò rất hay. Thời trai trẻ của chú cũng vì mê hò hát mà bỏ việc học hành, làm ăn. Ông cụ quá giận bắt phải lấy vợ. Dù vậy trong làng xã chú cũng thuộc hàng có chữ, một thời dạy học đến khi vợ chết mới ở nhà để chăm sóc mẹ. Cậu con trai duy nhất của chú đang dạy học ở một thành phố lớn ở phía Nam.
Thằng Rái vốn cũng là một kẻ mê hò hát, nhưng đáng tội là chẳng biết hò hát gì cả. Trong nhà cũng chẳng ai hò hát gì: cha nó thì cái giọng thổ rè rè, chắc là ghét hò hát. Còn mẹ nó hò hay nhưng chỉ hò dỗ con lúc còn nhỏ, bây giờ con lớn thì chẳng khi nào nghe mẹ hò nữa. Nhưng những lời ca dao từ giọng hò của mẹ cứ dặt dìu suốt cuộc đời thằng Rái. Nhớ những đêm xưa, giữa giấc ngủ mơ màng, tiếng mẹ cất lên vỗ về em nó trong cơn khát sữa nghe mỏi mòn một nỗi buồn vời vợi như lời thở than của một cõi lòng vô vọng.
Đi với chú Phu, cảnh sông nước thì chẳng có chi là lạ đối với thằng Rái, nhưng ra khỏi khúc sông bến phơi lưới mà nó lẩn quẩn từ nhỏ đến giờ thì đây là lần đầu,và giờ này thằng Rái mới biết Trường Giang là dài rộng thế nào. Còn công việc, cũng có những lúc cật lực làm việc mà không có giờ nghỉ nhưng cái tuổi của nó lại vui và có phần lãng mạn với các bè gỗ vượt suối xuôi ghềnh, hay những lần ngược dòng dưới trăng khuya nghe câu hò mái đẩy cất lên cao vút giữa đêm ngàn khiến cho kẻ xa quê thấy chạnh lòng man mác…
Những lần cắm thuyền đợi bao ngày trên bến sông Ô Lâu. Những đêm dài nơi bến lạ ngồi buồn, chú Phu thường kể chuyện đời cho bọn thằng Rái nghe, chú kể lại thời trẻ của mình với câu hò điệu hát trai gái ngày đó thật vui: bờ ruộng, nương dâu, đêm trăng giã gạo, gái trai đối đáp thâu đêm. Ngày đó chú cũng chẳng biết hò, trốn vào Huế tìm trường để học. Sau này hò được là đi suốt đêm, nghe đâu có hò hát là đi liền. Có lần bỏ cả công việc, qua bên kia sông hò mấy ngày khiến ông cụ giận quá lôi về đánh cho một trận nhưng vẫn không chừa. Ông cụ đành phải bắt lấy vợ, nhưng lúc đó chú đã có tình yêu với một cô gái quê ngoài kia . Cô ta phụ cho người dì vụ gặt năm ấy. Cả hai đã yêu nhau qua câu hò tiếng hát và chú Phu xin khất lại ba tháng. Đùng hẹn cô gái trở vào, chú Phu liền nói rõ ý định cầu hôn, nhưng cô gái chỉ buồn buồn không nói. Hai người ở bên nhau mầy ngày rồi chia tay. Lúc sắp giã từ, cô gái nói: “ Chia tay nhau lần này là hết, bởi ba mẹ em đã gả em cho người ta và tháng này cưới. Hãy tha lỗi cho em!”
Nói xong cô gái bật khóc rồi bỏ chạy. Từ đó họ cách biệt nhau. Sau này còn nghe nói, cưới nhau được vài tháng thì cô gái lâm bạo bệnh mà chết.
Nghe đến đây thằng Rái cũng nhuốm buồn nỗi buồn của người kể chuyện. Và nó cũng tiếc cho thời đại của mình, chẳng còn cảnh trai gái hò hát với nhau nữa. Bỗng nhiên thằng Rái có một thắc mắc kỳ lạ, nó tự hỏi những đứa con của nó sau này có còn được nghe những giọng hò đưa nôi hay không?
Lúc Rái theo làm cho chú Phu thì một ngày công ba chục đồng, mười đồng đong được sáu lon gạo. Nhưng thằng Rái làm tháng nên được trả hai chục đồng. Đó là một công việc có tiền công quá mong ước của mọi người. Đi như thế này, nó mới hiểu được câu” mua tận gốc, bán tận ngọn“ là thế nào. Bây giờ thì nó đã biết rất nhiều và làm được rất nhiều việc. Sau này nếu chú Phu không thuê nó nữa thì nó cũng có thể kiếm việc để làm. Nó mang trong lòng ước mơ đổi nghề, đổi đời từ đó.
Nhưng tất cả mọi điều chẳng hề khiến nó bận tâm suy nghĩ, chỉ có chuyện tình bi thương, huyền hoặc của chú Phu làm nó tơ tưởng mà thôi. Chú kể tiếp: Ngày đó, sau khi vợ chú mất, chú còn rất trẻ, cũng xuôi thuyền dưới một đêm trăng thế này. Lúc đó gần nữa đêm, trăng sáng vằng vặc, bỗng từ thuyền phía trước một giọng hò cất lên: "Hò… ơ… ơ… Đường về ngày đó xa khơ…khơi, Cách sông… cách suối… cách chàng… chàng ơi!... Hò…ơ…ơ…Gặp chi một thuở trong đời …Để thương… để nhớ… để mình về đâu?... Hò … ơ… ơ … đêm nay trăng giải mối sầu… Sông dài trời rộng… khoang thuyền đơ…đơn… côi!"
Chú Phu không khỏi giật mình tự hỏi, tại sao có giọng hò giống người xưa như vậy, lại còn đúng tâm tình của mình là sao? Chú Phu bảo những người bạn chèo mạnh hơn, rồi hò đáp lại: "Hò… ơ… ơ… người đi bộ ấy xa xăm… Cách sông… cách núi… cách tình sao vơi? Chờ nhau mấy độ sao dời… Trông nhau chưa hết cuộc đời còn trông… Hỏi người có phải cố nhân… Gặp nhau có phải duyên trờ…trời… hay không?... Đêm nay xuôi ngược dòng sông… Cùng ai xin giải mối sầu… thuở nao!...". Nhưng sao chiếc thuyền nhỏ phía trước chỉ có một người con gái chèo sao nhẹ nhàng thế, mà thuyền chú ba tay chèo vẫn không sao đuổi kịp. Chèo thế nào thì hai thuyền cũng cách xa nhau một con sào, hai thuyền đâu xa nhau là mấy, chú đứng ở mũi thuyền nhìn cô gái trên lái thuyền trước. Cũng dáng dấp ấy, cũng giọng hò ấy, sau người không quay lại nhìn nhau một lần chứ hò để làm gì, nhắc lại chi những lời nói trước với nhau! Chú Phu chưa hết bồi hồi bởi ẩn ý trong những câu hò thì thuyền đến một ngã ba sông bàng bạc sương khói dưới trăng khuya và chú Phu cũng không còn thấy chiếc thuyền phía trước đâu nữa.
Nghe kể tới đó, bạn chú cũng là chị họ của cô gái kia nói: “Thật ra thì em tôi không phải vì bạo bệnh mà chết, mà sau đêm tân hôn, người chồng nói rằng em tôi không còn trong trắng, rồi từ đó dằn vặt, hành hạ từng ngày!”.
“Đồ bệnh hoạn!”. Chú Phu tức giận: “Chưa bao giờ tôi gặp người con gái nào đoan chính như cô ấy! Yêu nhau thế, nhưng không khi nào tôi cầm được bàn tay!”.
Bạn chú nói tiếp: “Thế rồi một hôm, người ta không thấy em tôi về nhà, liền túa ra tìm. Nhưng chẳng tìm gặp đâu cả. Họ chỉ thấy đôi dép em tôi để lại bên bờ sông. Sau này cũng có người nói, thoáng thấy em tôi trên một chuyến đò…”.
(Còn tiếp)

Thằng Rái

Vừa ngoi lên từ đáy nước, thằng Rái đã vội leo lên chiếc thuyền chài với mảnh lưới vướng cành mục và cứ tồng ngồng như Chữ Đồng Tử nhào tới bên bếp để sưởi. Nó đang cóng!
Cái cảnh sông nước của cha con nó vẫn thế bởi quần áo chỉ độc một bộ,cần giữ khô để ngủ, nhất là giữa một đêm đông như thế này. Thằng Rái xuýt xoa: “ Đông này lạnh thật! Lạnh hơn đông trước “ . Lão Diếu ngồi bên bếp. Lão nhìn thằng Rái rồi thêm củi vào. Chẳng biết lão nghĩ gì khi nhìn con như thế. Tuy vậy cũng có lần lão nói: “ Thằng Rái cực quá mà lớn không nổi” . Quả thật trông thằng Rái có vẻ còi, nhỏ xác so với tuổi. Mặc dù vậy, thằng Rái cũng đã thay lão gánh vác việc nhà ba, bốn năm rồi chứ ít sao. Từ ngày nó 14, chị nó đã đi lấy chồng, nhà không còn ai. Thằng Lúi em nó, cũng chỉ phụ cho mấy sào. Còn mẹ nó ư?. Lão Diếu vẫn hay biếm vợ: “ Mụ ấy thì làm được gì? Vá cho đôi lỗ lưới rách là nhiều!”
Hai tay lão Diếu run lật bật lần túi tìm bâu(1) thuốc lá. Từ lúc lâm bạo bệnh, lão bị tật run tay như thế. Lão quấn một điếu rồi chìa cho thằng Rái: “Hút đi! Đỡ lạnh lắm!”. Thằng Rái đón điếu thuốc từ tay cha nó rồi rút que củi đang cháy ra mồi. Nó rít một hơi thật dài rồi nghệt cổ ra nhả khói cách điệu nghệ như một gã trai. Khói thuốc làm nó quên lạnh, nhưng cái cách và ánh mắt của lão Diếu vẫn xem nó như là đứa con nít khiến nó cứ bực mình: “Mình mà là con nít à?”. Nó nghĩ thế.
Sau khi nhìn bầu trời một lúc, lão Diếu nói:
- Đêm nay chắc không ngủ được rồi!
Thằng Rái đã mặc xong quần áo, đã cảm thấy bớt lạnh. Nó đang săm soi cời than và củi, nghe thế liền hỏi:
- Không ngủ thì làm chi?
Lão Diếu vui vẻ giải thích:
- Đêm nay chắc mưa to!
- Không mưa mà đã rét buốt thế rồi chưa đủ sao? thằng Rái càu nhàu - Còn mong gì nữa!
- Mưa thì nước về nhiều hơn, đục hơn. Nghề này chỉ nhờ có vậy!Lão Diếu giảng giải.
Cả hai chưa dứt lời thì đã nghe tiềng gió thổi mạnh trên mặt sông. Con thuyền đã được cắm sào nhưng nó cứ xoay liên tục theo chiều gió và thằng Rái nghe lộp bộp trên mui. Mưa bắt đầu rơi. Nó nghĩ thầm: “Lại một đêm rét buốt khổ cực nữa đây!”.
Gia đình thằng Rái vốn là dân vạn chài. Dân sống không nhà thác không mồ, trôi nổi trên các đầm phá, sông nước. Một cuộc vô định bốn phương. Thằng Rái chỉ ước mơ bình thường như bao người dân khác, có một mái nhà ở xóm làng, một miếng ruộng để cày và những đứa con đi đến trường. Đừng nói rằng người dân vạn chài có cuộc sống tự do tự tại sông nước thênh thang bốn mùa mát mẻ. Không, thằng Rái chỉ mong ước một cuộc sống thật của nó. Ước mong một đêm đông giá được cuộn mình trong mớ bao bố ngủ từ đầu hôm đến sáng mà không sợ nghe mẹ nói hết gạo! Còn những ý tưởng, nó không biết! Dù bây giờ gia đình thằng Rái đã có được một mái nhà nơi rẻo đất cha con thường phơi lưới ở ven sông, nhưng bao năm rồi người ta vẫn gọi là dân “ngụ cư”. Hai người chị của nó cũng lấy chồng vạn chài. Chị Kìm theo chồng sống tuốt trong Đầm Thừa Lưu nước ngọt; còn vợ chồng chị Mòi thì ở Vạn đò Gia Hội, chồng khuân vác và vợ bán mía khúc. Gia đình thằng Rái chẳng mấy dịp thăm họ. Nhưng mới đây có người từ hai nơi ấy về nói rằng: Chị Kìm đã bị chồng bỏ rơi theo người khác ; còn chị Mòi đói rách, nheo nhóc với tật bệnh thế mà chồng chẳng lo, được đồng nào đem chè chén sạch.
Tội nghiệp mẹ, thằng Rái đau lòng khi thấy mẹ kêu khóc: “Cái phận đàn bà, răng mà khổ rứa con ơi!”. Nghe thế lão Diếu lại đay: “Đồ đàn bà dư nước mắt!”. Nói xong ngoảnh mặt chổ khác, hai tay lại lật bật tìm bâu thuốc lá. Còn thằng Rái rủ thằng Khả ra gốc bàng trước đình ngồi hút thuốc. Nó nghĩ mọi sự cũng chỉ vì nghèo!
Sau một đêm vật lộn với gió mưa rét buốt, thằng Rái chỉ mong chóng về bến để chui vào mớ bao bố nơi cái võng tre dành riêng cho anh em nó. Rái không cần cả bữa cơm sáng nóng hổi mẹ nấu sẵn, nó cũng chẳng kịp nghe những lời khoe mẽ tài cán của lão Diếu, nó thèm ngủ. Cho đến khi gọi dậy buổi trưa, lúc ngoài trời vẫn còn lay bay những sợi mưa trong gió lạnh, mùi thức ăn sực nức do mẹ dọn ra nơi cái sạp khiến cơn đói đã bị nén xuống từ lâu giờ bỗng cồn cào bừng dậy làm cho thằng Rái không thể nào ngủ thêm được nữa. Vậy là nó bật dậy vung chân hất mớ bố rách sang bên, rồi nhảy qua sạp vớ ngay bát cơm ngấu nghiến một hơi liền mấy bát no bụng mới buông đũa ngồi xuống. Cách ăn uống của nó lại khiến lão Diếu chửi:
- Ăn uống cái chi lạ! Nếu được ra làng làm sao ngồi mâm với ta?
Thằng Rái thì nghĩ khác: Mình đói thì mình ăn, ăn sao mà chẳng được! Ăn miếng cơm mình làm ra thì có chi đâu mà xấu hổ? Ai muốn ra làng thì cứ sửa!
Sau bữa ăn, thằng Rái lấy phần thuốc đã chia cho mình bỏ vào túi rồi ra khỏi nhà. Trước đây lão Diếu chỉ chìa bâu cho quấn một điếu khi hút mà thôi. Nhưng điều đó không làm nó bận tâm. Cái mà thằng Rái luôn nghĩ đến là một cái bật lửa. Nó muốn có một cái bật lửa để trong túi như một người đàn ông thực thụ. Một người đàn ông không thể đi xin lửa, mà phải có lửa để cho người khác. Thằng Khả, bạn nó, cũng có bật lửa, nhưng cái đó đã cũ, bánh xe bật lửa đã mòn. Thằng Khả là bạn thân của nó từ nhỏ, dù Khả lớn hơn nó hai tuổi và nó chỉ tìm Khả để chơi trong khoảng thời gian được nghỉ từ đây đến chiều. Chúng gặp nhau thì cũng chỉ nói những chuyện tầm phào của những chàng trai mới lớn, hoặc có những đồng cảm như nhau và cả hai chẳng cần nói gì, chỉ nằm yên nơi bộ ngựa ở đầu hồi nhìn nỗi buồn rơi trên cành, sầu đông trụi lá bên ngoài cửa sổ. Thế nhưng bây giờ không thể tìm đến Khả chơi được nữa. Khả đã cưới vợ ba tháng nay. Không thể tìm Khả để chơi cũng buồn thật, nhưng điều khiến nó hối tiếc mãi trong lòng là nó không đến dự lễ cưới của bạn được. Khả đã mời và nhờ nó phụ rể. Khả đã nhắc nó đến mấy lần, nhưng làm sao nó đi được đây, áo quần đâu mà mặc? Từ nhỏ cho đến bây giờ, thằng Khả cũng như nó, chỉ được gia đình may cho bộ đồ ngắn bằng vải go. Loại vải cứng ngắc những hồ, có mùi ngai ngái và chỉ có hai màu đen hoặc đà. Vậy nhưng mỗi lần được may, chúng nó vẫn lấy làm vui sướng lắm, cứ chạy đến nhà bác thợ ngồi để rồi bị bác ta mắng mỏ. Ngay cả Khả chỉ đến ngày cưới vợ mới được may cho bộ đồ dài. Ngày đi hỏi vợ (và những lần đi làm rể) thằng Khả vẫn mượn áo quần người anh họ để mặc. (Còn tiếp)

(1) Cái bâu: loại túi có nhiều ngăn được may bằng bẹ chuối khô, dành để đựng sợi thuốc lá.